Trương Vĩnh Ký - Một trí thức đau khổ của thời cuộc!

Đăng lúc: Thứ năm - 25/10/2012 10:19
Trương Vĩnh Ký (1837-1898) –một trong 18 vị được tôn vinh là “Toàn cầu Bác học Danh gia”(năm 1874), nói và viết thông thạo 26 ngôn ngữ trên thế giới, có sự nghiệp hoạt động khoa học và trước tác ít ai sánh kịp, lại c ómột cuộc đời buồn, bị hiểu lầm làm tay sai cho thực dân Pháp.
 
 
Tuổi thơ đầy biến cố
 
Trương Vĩnh Ký sinh tại ấp Cái Mơn, xã Vĩnh Thành, tổng Minh Lý, huyện Tân Minh, phủ Hoàng An, tỉnh Vĩnh Long (nay thuộc huyện Chợ Lách, Bến Tre), tên lúc mới sinh là Trương Chánh Ký, tự Sĩ Tải, theo đạo Thiên chúa giáo nên có tên thánh là Jean Baptiste Pétrus (gọi tắt là Pétrus), là con thứ ba của lãnh binh Trương Chánh Thi và bà Nguyễn Thị Châu.
 
 
Trương Vĩnh Ký và tờ báo đầu tiên của Việt Nam: Gia Định báo
 
Năm lên 3 tuổi, thân phụ ông được triều đình cử đi sứ sang Cao Miên rồi mất. Nhờ mẹ tần tảo nuôi nấng, lên 5 tuổi Trương Vĩnh Ký được đi học chữ Hán tại Cái Mơn. Năm 9 tuổi, ông được linh mục Tám đem về nuôi, khi ông Tám mất, hai nhà truyền giáo người Pháp thấy ông vừa thông minh vừa chăm học nên đem về trường dòng ở Cái Nhum dạy chữ Latinh. Năm 1848, Pétrus Ký sang học tại Chủng viện Pinhalu ở Phnôm Pênh(Campuchia). Năm 1851, trường này chọn 3 học sinh xuất sắc, trongđó có Pétrus Ký để cấp học bổng đi du học tại Chủng viện Giáo hoàng ở Penang (Malaysia), chuyên đào tạo các tu sĩ. Năm 21 tuổi (1858), chỉ còn một năm nữa là tốt nghiệp để chịu chức linh mục thì Trương Vĩnh Ký phải về nước chịu tang mẹ.
 
Khi trở về quê hương, cũng là lúc thực dân Pháp đem quân sang xâm chiếm Việt Nam, vì thế việc cấm đạo Công giáo cũng diễn ra gay gắt hơn. Không du học nữa, cũng không thể ở lại quê nhà, Trương Vĩnh Ký lên Sài Gòn, tá túc tại nhà vị giám mục người Pháp Lefèbrie và được giới thiệu làm thông ngôn. Từ đây bắt đầu chặng đường Trương Vĩnh Ký trở thành nhà giáo, nhà báo, nhà văn của Việt Nam. Ông trở thành một trong18 bác học nổi danh thế giới của thế kỷ XIX (Dix Huit Sommites Culturelles Et Scienti-fiques Du Monde). Tuy cuộc đời của ông trải qua nhiều biến cố, song ông đã để lại cho đời hơn 100 tác phẩm rất có giá trị về các lĩnh vực văn học, lịch sử, địa lý, từ điển và dịch thuật.
 
Nhà báo tài ba
 
Nổi tiếng là thần đồng, hiếu học, ngay từ bé Trương Vĩnh Ký đã thông thạo chữ Hán và quốc ngữ nên năm 1863, ông làm phiên dịch cho phái đoàn nhà Nguyễn sang Pháp thương lượng chuộc ba tỉnh miền Đông. Về nước, ông tham gia hoạt động xã hội mạnh mẽ. Năm 1886, Trương Vĩnh Ký cộng tác với Toàn quyền Paul Bert và có lúc dạy tiếng Pháp cho vua Đồng Khánh. Ông đã đem câu châm ngôn LaTinh “Ở với họ mà không theo họ” (Sic vos nonvobis) để biện minh cho sự hợp tác của ông với Pháp. Ít lâu sau, ông chán nản rút khỏi chính trường, chuyên tâm vào việc nghiên cứu khoa học nhân văn và ngôn ngữ. Bằng trí tuệ uyên bác, năng lực cảm nhận và sáng tạo cao, làm việc nhanh và nhạy bén, ông đã viết hơn 100 bộ sách và hàng nghìn bài viết gồm nhiều thể loại, nhiều ngành khoa học khiến ai cũng phải kinh ngạc.
 
Ông là người đi tiên phong trong việc chuẩn bị cho công cuộc hiện đại hóa nền học vấn của dân tộc từ Hán sang Quốc học. Là nhà ngôn ngữ đầu tiên của Việt Nam, Trương Vĩnh Ký rất coi trọng, tin tưởng và phấn đấu cho tiếng Việt, đưa nó thành một ngôn ngữ phổ biến, mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc. Với lĩnh vực văn học quốc ngữ, ông là một trong số ít người tiên phong, chủ trương thiết lập câu văn xuôi với tiếng An Nam ròng, câu văn trơn tuột như nói...Ông cũng là một trong những nhà dịch thuật đầu tiên, nổi tiếng với việc dịch các tác phẩm tiếng Hán, tiếng Pháp sang tiếng Việt nhưng đáng nói nhất là vai trò quan trọng của Trương Vĩnh Ký trong lịch sử báo chí nước nhà. Ông đã thành lập và làm tổng biên tập tờ báo quốc ngữ đầu tiên, đồng thời là cây bút chủ chốt của nhiều tờ báo khác. Nhiều chuyên gia đánh giá, Trương Vĩnh Ký đã đặt nền móng và dốc sức phát triển báo chí Việt Nam theo hướng toàn diện, rộng lớn về quy mô, chặt chẽ về kết cấu, đa dạng về phong cách và thuận tiện, gần gũi, hoà đồng về phương thức tiếp cận bạn đọc. 
 
Trong lĩnh vực văn hóa, Trương Vĩnh Ký đã chứng tỏ có kiến thức uyên bác về nhiều mặt, không chỉ trong khoa học xã hội mà cả trong khoa học tự nhiên. Đặc biệt về hoạt động sưu tầm, biên khảo, phiên âm, phiên dịch, ông đạt những thành tựu đáng kể. Ông dịch sách chữ Hán, phiên ra chữ quốc ngữ những bản cổ văn Việt Nam như Truyện Kiều, Lục Vân Tiên, Phan Trần, Gia huấn ca, Lục súc tranh công,...Bấy nhiêu cũng đủ thấy ông có một năng lực làm việc phi thường. Trong khoảng thời gian 40 năm (1858 -1898), Trương Vĩnh Ký đã để lại cho đời 118 tác phẩm, bao gồm sách nghiên cứu, sưu tầm, dịch, phiên âm, trong đó có hàng chục quyển sách viết bằng Pháp văn. Ở buổi đầu giao thoa giữa hai nền văn hóa Tây phương và Đông phương tại Việt Nam, một sự nghiệp đồ sộ như thế quả là hiếm có. 
 
J.Bouchot, một học giả Pháp đã gọi ông là “một nhà bác học duy nhất ở Đông Dương”. Ở nước ta, một số nhà nghiên cứu đã đánh giá khá cao những cống hiến của ông. Nguyễn Văn Tố tóm tắt sự nghiệp của Trương Vĩnh Ký trong 3 tiếng: “Bác học, Tâm thuật, Khiêm tốn” và trong lời tựa cuốn Trương Vĩnh Ký của Lê Thanh, ông cho rằng họTrương là “một nhà lập ngôn bất hủ, một tay cự phách trong văn học, đã nổi tiếng là một nhà sư phạm”. Vũ Ngọc Phan trong tập Nhà văn hiện đại đã viết: “Trương Vĩnh Ký thiệt là một nhà bác học. Ông không những là một nhà văn, một nhà viết sử, một nhà dịch thuật mà còn là một người giỏi về ngôn ngữ”.
 
Nhà bác học buồn
 
 
 
Lăng Trương Vĩnh KýNằm ở góc đường Trần Bình Trọng-Trần Hưng Đạo, Q. 5, TPHCM. Giữa cổng có khắc hàng chữ La tinh: “Misereminimei saltem vos acimicmei” (Xin hãy thương tôi, ít ra là những bạn hữu của tôi) như là một ước nguyện cuối đời của học giả họ Trương.


 
Mộ Trương Vĩnh Ký ở giữa và vợ con hai bên là ba phiến đá lát phẳng với nền nhà mồ - Ảnh: Quốc Việt.
 
Cuộc đời của Trương Vĩnh Ký thật nồng nhiệt và đầy sóng gió. Từ xưa đến nay những nhà nghiên cứu, phê bình, biên khảo công trình về ông hoặc hết lời khen ngợi, hoặc hết lời chê bai, thậm chí còn lên án ông bằng những lời lẽ nặng nề: một tên tay sai họat động trong quỹ đạo xâm lăng của Thực dân Pháp. Thô thiển hơn có người còn cho ông là kẻ đi đầu dùng học vấn Pháp ngữ và Quốc ngữ tiêu diệt nền học vấn Hán Nôm của dân tộc. Nhưng cuộc sống “vinh thân, phì gia” hoàn toàn xa lạ đối với Trương. Trong một bức thư gửi bác sĩ Chavannesngày 8/4/1887, Ông viết “…về danh vọng thì nó không còn quyến rũ được con sư tử già bị đè nặng dưới niềm chua chát…”, còn với vợ mình (Bà Vương Thị Thọ )Ông tâm sự như trăn trối “Mọi việc tôi làm còn lưu lại đó. Việc đúng, việc sai hãy để cho đời phán xét, đời nầy chưa tỏ thì đời sau tiếp tục…Trong sáng như cụ Nguyễn Du mà còn phải kêu lên không biết 300 năm sau có ai hiểu được mình huống gì thân phận tôi ! Nếu tôi ra đi trước, bà nhắc con cháu là cả đời tôi cần mẫn,chăm chút để lại cho chúng toàn là sách….” 
 
Vậy Pétrus Ký là ai, phải chăng là một trí thức đau khổ của thời cuộc, của một dân tộc trong chế độ phong kiến suy tàn nằm dưới gọng kìm của đế quốc sài lang? Trước khi mất khoảng 3-4 năm, Trương Vĩnh Ký viết bài thơ tuyệt mệnh lối thơ thất ngôn Đường luật để lại trong di cảo của mình. Ông viết khi còn minh mẫn có sự suy nghĩ chín chắn chớ không phải khi sắp chết mới viết. Rõ ràng là ông suy nghĩ nhiều về cuộc đời và sự nghiệp của mình, thành quả và hậu quả nên mới có câu: “Cuốn sổ bình sanh công với tội / Tìm nơi thẩm phán để thừa khai". Trương Vĩnh Ký tính sổ cuộc đời mình, công và tội một cách tự nguyện, bộc bạch công khai, không che giấu, không lo ngại, sẵn sàng chấp nhận sự phán xét của lịch sử và của hậu thế. Đó là thái độ thẳng thắn, tự trọng đúng mức của một kẻ sĩ thức thời Việt nam trước thời cuộc trong thế kỷ thứ 19.
 
Bất Hối tổng hợp
(Theo Diễn dàn Lớp học vui vẻ )
Chia sẻ: Google Bookmarks Yahoo Bookmarks Đăng lên ZingMe Đăng lên Linkhay Đăng lên TagVn Bookmarks lêb baibu
Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết