Tản mạn bên bờ Cái Lá

Đăng lúc: Thứ hai - 16/09/2013 09:38
Anh Ba Thâu nói ở xã Phú An nhiều ông hơn bà: rạch Ông Cối, Ông Xây, vịnh Ông Trung, thêm Ông Quản Tú được đặt tên cho một giồng cát và cái ông Văn Cang cư ngụ ở ngã tư nghe đâu xưa là một họa sĩ có danh... Còn bà thì chỉ có rạch Bà Phò, rạch Bà Bốn.
1. Vốn là cục đất ven sông Tiền, Phú An có một mạng kinh rạch chằng chịt, ngoằn ngoèo, rạch Ông Xây là một điển hình - con rạch nhỏ, xoay vòng vòng nên gọi “ông” Xây/xoay, làm rối trí những “nhà địa danh học”. Con rạch lớn có nhiều chi lưu nhất là rạch Cái Bè nhánh phía Đông, hiện nay các văn bản ghi theo cách gọi dân gian là sông Phú An, còn ngày xưa thì gọi là Cái Lá, trùng tên với con rạch bên xã Hiệp Đức, nên nhiều tài liệu xưa lẫn lộn.

Chợ Cái Lá nằm trên bờ rạch qua cuộc bể dâu cũng không còn ai nhớ, mặc dù nền chợ vẫn còn đó với tên chợ Phú An với nhà lồng xây mới, thêm một lớp kiến trúc nhà lầu, nhà tường kiên cố chồng lên vết tích xưa với dăm miếng đá ong vương vãi, khuất lấp trong những góc nhà. Hai bên bờ rạch Cái Lá là những hàng dừa nước, nhiều bụi chơ vơ mấy cọng lá, đưa bắp tay chống chọi với sự tàn phá không thương tiếc của con người. Vào sâu trong các chi lưu Ông Cối, Ông Xây, Bà Phò dừa nước mọc dày hơn, dường như được người dân trong xóm bảo vệ kỹ, để chống lở đất. Liên tưởng đến chuyện rừng lá ở Gò Công, nơi anh hùng Trương Định làm căn cứ chống Tây chỉ còn tồn tại bằng cái tên “Đám lá tối trời” mà xót xa cho những chuyện hủy hoại môi trường song hành với sự tàn phá di tích.

Đầu thế kỷ XX, làng xã ở Nam kỳ bị người Pháp xáo trộn khá nhiều. Phú An cũng nằm chung số phận khi làng Phú Sơn bị tách khỏi hệ thống “ngũ nhạc” gồm: Hội Sơn, Xuân Sơn, Cẩm Sơn, Hòa Sơn, Phú Sơn để nhập vào làng An Mỹ. Rồi chiến tranh kéo dài, địa giới hành chánh tiếp tục thay đổi để phục vụ cho nhu cầu chiến đấu, cho nên xã Phú An sau ngày độc lập có đến ba ngôi đình: An Mỹ, Phú Sơn và đình An Thành vốn dĩ của xã Mỹ Thành, tức thôn Lợi An xưa thuộc xứ Lợi Tồn hay xóm Bà Tồn, đã ghi trong Địa bạ Minh Mạng. Làng mất đình còn, từ sau năm 1975, người dân Mỹ Thành phía bên kia Quốc lộ 1 vẫn nhớ ngày Kỳ yên kéo sang cúng bái. Một cách để nhớ về truyền thống cũ, không khác mấy trăm năm trước tổ tiên cư dân các làng “ngũ nhạc” hoài niệm quê nhà ở vùng đồi núi xứ Quảng nên dùng chữ “sơn” đặt tên làng làm kỷ niệm.
 


Chợ Phú An

Nói chuyện ba làng, chợt nhớ đến bưng Cây Gáo ba làng ở xóm giáp ranh thôn An Mỹ, hiện còn dăm thửa ruộng biền trũng. Gọi “Cây Gáo ba làng” vì cây gáo nằm giáp ranh các làng Cẩm Sơn, Bình Phú và An Mỹ từng được vài tài liệu thư tịch nhắc đến.

Ngày xưa, bưng Cây Gáo ba làng có diện tích khoảng hơn 10 mẫu tây, sen mọc đầy, nhiều loại chim chóc đến trú ngụ. Cách nay hơn 100 năm, khu vực này rất hoang vu. Vào những năm cuối thế kỷ XIX, heo rừng còn xuất hiện. Sách Đối cổ kỳ quan của ông Đặng Lễ Nghi chép rằng lúc Trần Bá Lộc làm Đốc phủ ở quận Cái Bè, khoảng năm 1872, ở Cây Gáo ba làng xuất hiện một con heo rừng rất to, dân làng gọi là ông Chảng. Tác giả mô tả, ông Chảng không biết từ đâu đến cư ngụ vùng nầy, phá vườn, phá rẫy, uy hiếp dân lành. Dân trong xóm sợ quá khấn vái mãi mà ông chẳng buông tha. Sự việc đến tai Đốc phủ Lộc. Ông cho dời phường săn đến lo việc trừ khử con heo rừng. Hai chục thợ săn được mời đến, trong đó có một người tên là Quản Năng rất giỏi võ nghệ. Họ trang bị giáo mác gậy gộc và đem theo 15 chó săn thiện nghệ đến bao vây khu vườn. Chó săn lùng sùng đánh nhau tơi bời với ông Chảng. Nhắm đương cự không nổi, ông Chảng lẻn khỏi vòng vây chạy thục mạng tới nhà chị Hai Trong. Bấy giờ có hai thanh niên tên là Đinh và Vàng vốn là hai anh em ruột. Họ bàn, heo rừng đã bị săn đuổi mệt, vậy anh em mình đâm chết nó rồi giấu đi để được ăn trọn phần. Vàng cầm cây, Đinh xách giáo tre nhảy vô đánh. Trong nháy mắt, Đinh bị ông Chảng tát văng giáo tre rồi dùng răng nanh xé xác. Vàng thấy anh mình bị ông Chảng cắn chết, bèn quăng vũ khí vừa chạy, vừa la làng kêu cứu. Anh ta trèo lên cây, con heo rừng vẫn ngoan cố đứng canh chừng dưới gốc. Một lúc sau, Quản Năng tới cầm giáo đánh vùi với ông Chảng nửa canh giờ mới giết được. Con heo rừng nặng đến tám người khiêng mới nổi. Người chép chuyện không bình luận nhưng đã gởi thông điệp rõ ràng, thời nào cũng vậy “tham thì thâm”.

Tản mạn chuyện xưa nhờ câu nói của một người bạn “khi hiện tại im lặng thì quá khứ ồn ào”. Khuấy động vào dĩ vãng đôi khi tìm thấy sự gợi mở thú vị cho hiện tại.
Đất Phú An trong lịch sử hành chánh thuộc về quận Cái Bè lâu hơn là Cai Lậy. Thời thực dân đô hộ, dân gian có câu:

“Cái Bè có bốn anh hào
Thục ngang, Cang đởm
Sang giàu, Tú khôn”.

Trong bốn “anh hào” ấy ở Phú An có hai vị: Lê Ngọc Thục và Hương quản Tú. Họ Lê nổi tiếng ngày trước hiện vẫn còn truyền tử lưu tôn. Hồi đầu thế kỷ XX, ông Lê Ngọc Thục bất chấp qui định của nhà cầm quyền thực dân, khai ruộng, tậu điền mở thêm một ấp, lấy tên là Phú Hiệp thuộc thôn Phú Sơn ở tận ngọn rạch Bà Hợp, thuộc làng Hòa Khánh. Danh nghĩa là một ấp của làng Phú Sơn, tá điền làm ruộng ở đây phải đóng thuế cho làng Phú Sơn, không đóng cho tổng Phong Hòa, còn bảo tổng nghèo hơn thôn. Vì vậy, mà nhà chức trách liệt ông vào hàng ngang ngược số một.

Hương quản Tú lập bến đò ở cuối giồng Cây Dong mà thư tịch cũ ghi là Dong Mục Cương, ở đây là đoạn cuối đường Thiên Lý trên đất Mỹ Tho hình thành từ thời chúa Nguyễn 1792, muốn sang bên Thủ Triệu làng Hội Cư phải qua đò. Chưa rõ thời điểm ông lập, nhưng nghe nói nhờ huê lợi từ cái bến đò này mà ông trở nên giàu có và để lại địa danh bến đò Quản Tú, lưu truyền đến nay.

Đừng tưởng câu ca dao hay phương ngữ, giai thoại không chứa đựng giá trị thực lục.
2. Anh Ba Thâu vốn là người địa phương, làm Bí thư xã Phú An có hơn mười năm, bây giờ đã hưu trí nên có nhiều thời gian rảnh, cất công đi tìm chứng tích tư liệu, phục vụ cho việc biên soạn lịch sử địa phương. Những địa danh xóm Đất Làng trong Nam kỳ khởi nghĩa, Gò Da, Thủ Ngữ, Đìa Dứa, Cầu Kinh... trong giai đoạn kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ là những nơi từng ghi dấu những chiến công oanh liệt của quân và dân xã Phú An trong suốt gần nửa thế kỷ đấu tranh giành độc lập. Anh xác quyết, nhiều trận đánh diễn ra ở xóm Gò Da xứng đáng để lập hồ sơ xin công nhận di tích lịch sử hay dựng bia kỷ niệm, bia chiến thắng...


Minh họa: Thanh Tiên

Nghe anh liệt kê những chiến công, tôi chợt nhớ đến chị Hai Biếc ở xóm rạch Ông Cối. Một người phụ nữ nay sắp sửa bước vào tuổi cổ lai hi, đáng lý ra phải sống trong sự đề huề chăm sóc của con cháu, lại thui thủi một mình trong căn nhà mà bằng, giấy khen và những kỷ vật thời chiến tranh nhiều hơn tiền gạo. Gia đình chị có bốn thế hệ làm cách mạng, chị thuộc thế hệ thứ ba. Ông nội là vị bí thư đầu tiên của chi bộ xã Phú An hồi năm 1930, đến Nam kỳ khởi nghĩa 1940, ông bị quận Tâm bắt, đánh chết rồi quăng xuống sông xác trôi tận ra vàm Ba Rài, mấy hôm sau mới có người dám vớt. Ba chị rồi người chú ruột tham gia kháng chiến chống Pháp, hy sinh. Bà nội nén nỗi đau mất chồng, mất con, thời kỳ “tố cộng” đen tối nhất, vẫn đùm bọc nuôi giấu cán bộ Huyện ủy trong nhà để chuẩn bị cho đồng khởi. Hai mươi năm sau kể từ ngày rời bỏ trần gian đi tìm chồng và các con, bà được Nhà nước truy tặng danh hiệu Mẹ Việt Nam Anh hùng.

Chỉ riêng gia đình chị Hai Biếc đã là một pho sử sống động, đủ sức để giáo dục lòng yêu nước.
 Nhưng Phú An nào đâu chỉ có gia đình chị Biếc. Có những chiến công thầm lặng mà cũng là nỗi đau được giấu kín, nói theo cách nói đời thường là “sống để bụng chết mang theo”. Năm 1970, giặc đóng đồn Phú Hiệp, án ngữ ba xã Phú An, Cẩm Sơn, Hiệp Đức. Ta đánh hoài nhưng không bứng nổi đồn. Binh vận xã Phú An bèn tổ chức đưa một nữ cán bộ vô bót tìm cách tiếp cận, móc nối với đồn trưởng, nhưng bọn lính đồn đã biết chị là Việt cộng nên đã bắt giữ chị, nhốt lại bót qua đêm thay nhau hãm hiếp. Lãnh đạo huyện nghi ngờ khí tiết của chị, sợ lộ đường dây tổ chức, nên chỉ đạo thủ tiêu chị để bịt đầu mối. May thay, người lãnh nhiệm vụ thi hành bản án đã “nhân từ mở ải thả oan gia”, tìm gặp chị, khuyên chị bỏ trốn, tìm nơi khác làm ăn. Sau ngày nước nhà hòa bình thống nhất, chị ấy trở về quê sinh sống trong sự cô đơn và nghèo túng. Thỉnh thoảng người ta bắt gặp chị ngồi ven đường cạnh chợ với mớ khoai, bắp luộc bán cho lũ trẻ mà chiếc nón lá lúc nào cũng sụp che nửa mặt, dù chị bây giờ đã ngoại lục tuần.

Câu chuyện tôi được nghe người phụ trách công tác binh vận năm xưa kể lại với một thái độ dè chừng, giấu luôn tên tuổi, sợ khơi gợi lại nỗi đau của chị.

 Ký ức thời chiến tranh có những chuyện tưởng chừng như giai thoại.
3. Tổng kết của người xưa “nhất nghệ tinh, nhất thân vinh”, làng quê Phú An xưa nay vẫn trung thành với nghề nông nhưng vẫn không khá lên được. Xưa ruộng ở đây đa phần là ruộng gò, canh tác theo kiểu ruộng lúa muộn, gieo mạ tháng 5, tháng 6, cấy tháng 7 tháng 8 đến tháng chạp, tháng giêng gặt. Ở những xóm đất giồng, gò thì trồng thêm các loại khoai, bắp, mía hoặc trồng dâu nuôi tằm, đặc biệt là trồng cau, diện tích cây cau có thời cao gấp đôi cây lúa... Do ở gần sông Tiền lại gần ngôi chợ đầu mối khá nổi tiếng chợ Cái Bè, nên thương nghiệp ở vùng này phát triển khá sớm. Chợ Cái Lá có từ thế kỷ XIX, thuộc làng Phú Sơn tồn tại đến 1945, nay đổi thành chợ Phú An. Nơi đây xưa có nghề thủ công khá nổi tiếng là dệt vải với nguồn dâu tằm tại chỗ và nghề làm cau khô, trầu rang bán cho giới thương hồ đường dài. Song, lợi thế ấy không còn giữ được khi mà giao thông đường bộ chiếm thế thượng phong so với đường thủy. Chợ Phú An không còn cảnh trên bến dưới thuyền thời phồn thịnh, đã biến thành ngôi chợ làng và thêm chiến tranh tàn phá đã không gượng dậy được.
Qua hai cuộc chiến tranh khốc liệt, sau ngày thống nhất đất nước, xã Phú An vẫn là một địa phương nông nghiệp. Tuy nhiên, tính chất thuần nông trong thời gian gần đây đã không còn, nhất là trong giai đoạn xã đang nỗ lực “chuyển dịch cơ cấu kinh tế”. Hiện nay, diện tích trồng lúa đã giảm hơn phân nửa để nhường chỗ cho diện tích vườn cây ăn trái, nhưng lợi nhuận đem lại từ cây trái vùng này chưa bằng phân nửa so với đất vườn ở vùng Tam Bình, Ngũ Hiệp. Theo báo cáo của xã thì bình quân diện tích sản xuất chia cho đầu người chỉ nhỉnh hơn 700m2 đất. Đây là nói việc chia bình quân, còn trên thực tế nhiều người không còn hoặc còn rất ít ruộng đất để canh tác. Không có ruộng đất để làm thì toàn bộ kinh nghiệm nông gia của cha ông họ truyền lại trở thành vô nghĩa, buộc họ phải đổ về các đô thị lớn làm công nhân, hoặc các nghề khác để mưu sinh hoặc tìm kiếm cơ hội làm giàu. Đây là vấn nạn ở Phú An trong những năm gần đây và chưa có dấu hiệu khả quan nào để nói rằng số người ấy đang không tiếp tục gia tăng. Và nó sẽ kéo theo hệ lụy về mặt văn hóa, có vẻ nghiêm trọng hơn trong tương lai, ly nông rồi ly hương, lớp trẻ xa rời truyền thống.

Mấy năm trở lại đây, xã Phú An đã hình thành những nhóm cư dân đa ngành nghề từ chăn nuôi, dịch vụ mua bán đến tiểu thủ công như sấy nhãn, làm bánh tráng... và chú ý đến thương mại dịch vụ. Song, nhiều năm qua vẫn loanh hoanh theo kiểu tự túc tự cấp, khó có thể bứt phá với những khu chợ chồm hổm và dăm quán cóc sáng cà phê, chiều rượu đế tạm bợ ven đường. Việc khai thác các lợi thế địa dư hiện tại dựa vào khu phố Bà Tồn, ngã tư Văn Cang... dường như chưa phải là thế mạnh bởi bản thân những nơi này không chứa đựng tiềm năng và yếu tố phát triển trong tương lai gần. Muốn phát triển lĩnh vực thương mại và dịch vụ không thể không tính đến việc nối dài sự phát triển của thị trấn Cái Bè. Điều này bản thân Phú An không thể đơn phương nỗ lực mà đòi hỏi sự hỗ trợ định hướng qui hoạch từ các nhà hoạch định chính sách cấp trên.

Một vài ý nghĩ tản mạn bên bờ Cái Lá, không dám lạm bàn đến chuyện đại sự quốc kế dân sinh, chỉ ghi chép những điều tai nghe mắt thấy, mượn chuyện quá khứ để gợi mở thêm những vấn đề hiện tại.
Nguyễn Ngọc Phan
(Theo Văn nghệ Tiền Giang số 59)
Chia sẻ: Google Bookmarks Yahoo Bookmarks Đăng lên ZingMe Đăng lên Linkhay Đăng lên TagVn Bookmarks lêb baibu
Từ khóa:

Phú An, Cái Lá, Tiền Giang

Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết