Một chiều thu nhạt nắng bên ô cửa sổ hẹp…
Chiều nay, khi những vệt nắng cuối ngày dần tắt lịm sau những vòm cây xà cừ già cỗi, tôi ngồi lặng yên bên ô cửa sổ quen thuộc của mình, pha một tách trà nóng và thả hồn theo những đám mây xám đang lững lờ trôi. Tiếng còi xe ngoài kia vẫn hối hả, rộn rã, tiếng bước chân người qua lại vội vã nhịp nhàng gõ xuống mặt đường nhựa, nhưng lòng tôi lại trôi về một khoảng không tĩnh lặng, miên man vô tận. Bạn có bao giờ giật mình thảng thốt nhận ra, chúng ta đã đi qua biết bao chân trời góc bể, đã nếm trải đủ mọi vinh hoa và bão giông của tuổi trẻ, để rồi một ngày đôi chân rã rời mới bàng hoàng nhận ra mình chưa từng ngắm kỹ một nhành hoa dại nở khiêm nhường ngay trước hiên nhà? Cảm giác nghẹn ngào, day dứt ấy đã bủa vây lấy tâm trí tôi, len lỏi vào từng nhịp thở khi tôi lật giở những trang văn cuối đời của Nguyễn Minh Châu trong tác phẩm Bến quê.
Gấp lại cuốn sách đã sờn gáy, tôi nghe như có tiếng thở dài xót xa của kiếp nhân sinh vọng về từ bãi bồi bên kia sông Hồng, nghe như có tiếng vỗ cánh của một loài chim di cư đã mỏi mệt muốn tìm về tổ ấm. Bến quê không chỉ đơn thuần là một câu chuyện kể về những ngày tháng cuối đời của một con người bệnh tật. Hơn thế nữa, đó là một lời vĩnh quyết đầy tính chiêm nghiệm, một tiếng chuông cảnh tỉnh gõ nhịp vào những tâm hồn đang mải miết chạy theo những ảo ảnh xa xôi, những vầng hào quang rực rỡ mà vô tình bỏ quên bến đỗ bình yên nhất, chân thật nhất của cuộc đời mình.
Những bông hoa bằng lăng thẫm màu và thanh âm của sự lụi tàn
Nhân vật Nhĩ trong Bến quê là một kiếp người đã đi trọn vẹn vòng quanh thế giới. Bàn chân anh từng kiêu hãnh in dấu trên những đô hội tráng lệ, từng sải bước qua những vùng đất lạ lẫm xa xôi. Nhưng trớ trêu thay, sự đời luôn ẩn chứa những khúc cua nghiệt ngã. Khi căn bệnh quái ác trói chặt anh vào chiếc giường chật hẹp, biến anh thành một phế nhân ngay trong chính ngôi nhà của mình, anh mới lần đầu tiên phát hiện ra vẻ đẹp diệu kỳ của cái bãi bồi bên kia sông – nơi chỉ cách anh một khung cửa sổ. Nguyễn Minh Châu đã thật tàn nhẫn nhưng cũng thật nhân đạo, vĩ đại khi đặt nhân vật của mình vào lằn ranh mỏng manh giữa sự sống và cái chết, để từ đó, nhãn quan của con người được gột rửa, trở nên vô ngần tinh tế và sâu sắc.
Qua ô cửa sổ của Nhĩ, tôi và bạn nhìn thấy những bông hoa bằng lăng cuối mùa “đậm sắc hơn, một màu tím thẫm như bóng tối”. Đó đâu chỉ là màu sắc của thiên nhiên đang bước vào độ tàn úa, đó chính là màu của thời gian đang cạn dần, là sự nuối tiếc đến quặn thắt của một sinh thể sắp lìa xa cõi thế. Âm thanh của những tảng đất lở bên bờ sông Hồng đổ ụp vào dòng nước đỏ nặng phù sa nghe như tiếng vỡ vụn của những giấc mơ, gõ nhịp hối hả của tử thần đang bước tới. Trong cái không gian chật hẹp, quẩn quanh mùi thuốc men ấy, Nhĩ mới nhận ra vẻ đẹp bình dị mà vĩnh hằng của quê hương. Sự thức nhận muộn màng, đầy đớn đau ấy khiến tôi nhớ đến cái nhìn khắc khoải của chị em Liên khi ngóng đợi chuyến tàu đêm lướt qua trong Hai đứa trẻ của Thạch Lam. Nếu Liên đợi chờ một thứ ánh sáng rực rỡ từ nơi xa xăm để xua đi cái tăm tối, tù đọng của phố huyện nghèo, thì Nhĩ lại đau đáu khao khát được chạm tay vào thứ ánh sáng bình dị, thân thuộc ngay trước mắt mà cả đời anh đã vô tình lướt qua vì mải mê rong ruổi.

Bàn tay gầy guộc của Liên và những vết xước rớm máu của thời gian
Không có những lời tỏ tình hoa mỹ, không có những cái ôm nồng nhiệt của tuổi trẻ, tình yêu và sự thấu hiểu trong Bến quê hiện lên qua những chi tiết nghẹn ngào, dung dị đến rơi nước mắt. Khi Nhĩ nhận ra “những ngón tay gầy guộc âu yếm vuốt ve bên vai anh” của Liên – người vợ tần tảo, anh mới thực sự thấu hiểu tận cùng sự hy sinh thầm lặng của chị. Cả một đời phiêu dạt, Nhĩ để lại sau lưng người vợ nhẫn nại, chịu đựng những tháng ngày đằng đẵng cô đơn. Đến lúc đôi cánh của con chim bằng đã gãy nát, không thể tự mình nhích nổi nửa vòng người trên chiếc giường bệnh, anh mới tìm thấy nơi nương tựa vững chãi nhất, ấm áp nhất chính là mái ấm gia đình.
Ngòi bút của Nguyễn Minh Châu dường như đã chắt lọc những gì tinh túy nhất, u buồn nhất của ngôn từ để miêu tả cái nhìn xót xa, ân hận của Nhĩ. Anh xót thương cho người vợ mặc chiếc áo vá, xót thương cho tuổi thanh xuân của chị đã chôn vùi trong những năm tháng đợi chờ anh mòn mỏi. Tình yêu thương ấy, dẫu muộn màng, vẫn lấp lánh như một viên ngọc quý được đãi từ những cát bụi của sự vô tâm. Tiếng bước chân của Liên trên những bậc cầu thang mòn vẹt âm vang trong tâm trí Nhĩ, cũng chính là âm vang của lòng biết ơn sâu sắc mà một người đàn ông sắp đi hết kiếp người dành cho người phụ nữ đã dùng cả cuộc đời để bao dung những lỗi lầm, những chuyến đi biền biệt của mình.
Đám cờ thế ven đường và những vòng vèo, chùng chình của cõi nhân sinh
Hình tượng nghệ thuật ám ảnh tôi nhất trong Bến quê chính là khát vọng cuối đời, cháy bỏng và tuyệt vọng của Nhĩ: nhờ cậu con trai tên Tuấn sang bên kia sông, đặt chân lên cái bãi bồi phù sa màu mỡ ấy thay mình. Nhưng hỡi ôi, đứa con trai với tuổi trẻ bồng bột và sự vô tư đến vô tâm ấy lại sa vào đám cờ thế ven đường, để lỡ mất chuyến đò ngang duy nhất trong ngày. Sự lỡ dở ấy không phải là lỗi của riêng cậu bé, mà đó chính là quy luật đầy bi kịch của đời người mà Nguyễn Minh Châu muốn gửi gắm, khắc tạc vào lịch sử văn học.
Bạn thấy đấy, con người ta trên đường đời thật khó tránh khỏi những sự “chùng chình, vòng vèo”. Những đám cờ thế, những cám dỗ phù hoa, những mục tiêu hư ảo luôn giăng sẵn để níu bước chân chúng ta khỏi những giá trị đích thực. Nhĩ đã từng như thế, anh đã dành cả thanh xuân để theo đuổi những chân trời xa lạ, và giờ đây, con trai anh lại dẫm lên vết xe đổ ấy, lặp lại vòng lặp bi thương của sự lãng quên. Triết lý này gợi cho tôi một sự liên tưởng sâu sắc đến một tuyệt tác khác của cùng tác giả. Nếu trong Chiếc thuyền ngoài xa, nghệ sĩ Phùng ngỡ ngàng, đau đớn nhận ra nghịch lý xót xa đầy bạo lực đằng sau vẻ đẹp toàn bích của chiếc thuyền sương mù, thì ở Bến quê, Nhĩ lại cay đắng nếm trải nghịch lý của chính cuộc đời mình: kẻ đi khắp thế gian lại không thể tự mình bước sang bờ sông bên cạnh nhà mình.
“Con người ta trên đường đời thật khó tránh được những cái điều vòng vèo hoặc chùng chình…” – Lời tự bạch của Nhĩ không chỉ là tiếng thở dài cho số phận cá nhân, mà là bản tình ca buồn bã viết cho toàn thể nhân loại đang lạc lối trong mê cung của chính mình.
Tiếng hò đò muộn màng và cái vẫy tay chới với giữa màn sương
Khép lại trang truyện Bến quê, hình ảnh Nhĩ thu hết tàn lực cuối cùng, đu mình ra ngoài cửa sổ, giơ cánh tay gầy guộc khoát khoát như đang khẩn thiết ra hiệu cho một ai đó, cứ găm vào tâm trí tôi một nỗi buồn khôn tả, day dứt mãi không thôi. Cái vẫy tay ấy là sự tuyệt vọng ư? Là sự đầu hàng trước số phận nghiệt ngã ư? Không, tôi cho rằng đó là nỗ lực vĩ đại cuối cùng của một con người đang cố gắng thức tỉnh những người xung quanh khỏi cơn mê dài của những giá trị phù phiếm.
Anh đang ra hiệu cho con trai mình hãy mau bước qua những chùng chình vòng vèo để kịp chuyến đò, hay đang ra hiệu cho chính tôi và bạn – những độc giả của mọi thế hệ? Bằng nhãn quan của một nhà văn mang nặng tình yêu thương con người, Nguyễn Minh Châu đã tạc vào không gian một cái vẫy tay mang tính biểu tượng cao độ, một thông điệp vĩnh cửu về việc trân trọng những giá trị bình dị, thân thuộc của gia đình, quê hương trước khi lưỡi hái của thời gian phán quyết mọi thứ là quá muộn.
Cuộc đời này ngắn ngủi lắm, và thời gian thì chẳng bao giờ biết đợi chờ bất kỳ ai. Đừng để đến khi chiếc lá cuối cùng lìa cành, khi đôi mắt đã mờ đục và đôi chân không còn sức lực, ta mới thốt lên hai tiếng “giá như” đầy đắng cay. Bến quê của Nguyễn Minh Châu sẽ mãi là một tiếng vọng trầm buồn nhưng vô cùng trong trẻo, như dòng nước sông Hồng mùa lũ gột rửa những lớp bụi mờ đang che phủ tâm hồn chúng ta giữa nhịp sống xô bồ, huyên náo.
Đêm nay, khi gió mùa khẽ lùa qua khe cửa mang theo hơi lạnh của đất trời, tôi tự rót cho mình thêm một tách trà, nhìn sâu vào màn đêm và tự hỏi lòng mình: Bến đỗ bình yên của tôi đang ở đâu, và tôi đã thực sự chạm được vào nó bằng tất cả sự nâng niu, hay vẫn đang mải miết lạc bước giữa những đám cờ thế đầy ma lực của cuộc đời?


