Đêm cố đô mưa đổ, nghe vọng về tiếng hát của những thiên thần áo lính
Khói trầm hương mỏng mảnh tan vào đêm sương sương lạnh. Gió rít qua khe cửa sổ mang theo hơi thở của những ngày tháng tư xa lắc lơ, gợi lên trong tôi một nỗi niềm hoài cổ miên man. Tôi ngồi lặng thinh trong góc phòng xép nhỏ, để mặc cho những giọt mưa gõ nhịp trên mái tôn, tựa như tiếng bước chân hành quân dồn dập của một thuở đạn bom khói lửa. Trên tay tôi lúc này là những trang giấy đã ngả màu thời gian của Tuổi thơ dữ dội, một kiệt tác văn chương mà nhà văn Phùng Quán đã vắt kiệt máu, nước mắt và cả sinh mệnh nghệ thuật của mình để viết nên. Đọc cuốn sách này không phải là một trải nghiệm lướt qua mặt chữ thông thường, mà là một cuộc hành hương đầy đau đớn về miền ký ức tàn khốc nhưng đẹp đẽ đến nghẹn ngùng.
Có những đêm trắng, tôi trằn trọc không sao chợp mắt được vì tiếng gọi “mạ ơi” rướm máu của các em cứ văng vẳng bên tai. Phùng Quán đã mở ra một cánh cửa thời gian, ném người đọc vào giữa lòng thành phố Huế những năm đầu toàn quốc kháng chiến. Ở đó, dòng sông Hương không còn êm đềm trôi những điệu Nam ai, Nam bình, mà cuồn cuộn sóng đỏ của lòng căm thù và tinh thần vệ quốc. Và ở đó, tôi đã gặp những thiên thần áo lính, những cậu bé chưa ráo máu đầu đã vội khoác lên mình chiếc áo trấn thủ rộng thùng thình, bước vào cuộc chiến sinh tử với một nụ cười trong trẻo vô ngần.
Giọt nước mắt trong veo rơi trên nòng súng lạnh
Bạn có từng tự hỏi, tuổi mười ba, mười bốn của mình mang màu sắc gì không? Là màu xanh biếc của bầu trời vắt ngang ô cửa lớp, là màu trắng tinh khôi của những trang vở thơm mùi giấy mới. Nhưng với những nhân vật trong Tuổi thơ dữ dội, tuổi thơ của các em bị tước đoạt một cách phũ phàng, bị nhuộm thành màu đỏ ối của máu, lửa và khói thuốc súng. Phùng Quán không hề có ý định tô hồng chiến tranh. Ngòi bút của ông sắc lẹm, rạch những nhát dao sâu hoắm vào thực tại tàn khốc, phơi bày sự tàn bạo của sài lang đế quốc.
Sự đối lập đến tàn nhẫn giữa nụ cười hồn nhiên, trò chơi đánh bi, bắt dế với những trận đòn tra tấn dã man, những nhà tù tối tăm tạo nên một sức sát thương ghê gớm đối với trái tim người đọc. Giống như khi ta run rẩy chạm vào nỗi ám ảnh khôn nguôi về chiến tranh trong những tác phẩm hậu chiến khác, ta mới thấu hiểu đến tận cùng cái giá của hòa bình đắt đỏ nhường nào. Các em mang súng cao hơn đầu người, những đôi bàn tay lẽ ra chỉ cầm bút lại phải cầm lựu đạn, nhưng tâm hồn các em vẫn vẹn nguyên một viên pha lê không tì vết.

Những cánh chim non lao vào bão lửa
Hình tượng nhân vật dưới ngòi bút Phùng Quán hiện lên như những bức phù điêu tạc vào ráng chiều rực đỏ của lịch sử. Mỗi đứa trẻ là một mảnh ghép, một nốt nhạc trong bản giao hưởng bi tráng của dân tộc. Tôi làm sao quên được Vịnh “sưa”, thân hình bé nhỏ vắt vẻo trên mái đình, lấy thân mình làm cột mốc sống cho pháo binh ta nã đạn. Khoảnh khắc em hóa thân thành ngọn đuốc rực sáng giữa không trung, cả bầu trời Huế như vỡ òa trong tiếng nấc. Em chết đứng, kiêu hãnh và lẫm liệt như một vị thần đất Việt.
Rồi Lượm sứt, cậu bé mang dòng máu con nhà nòi cách mạng, đôi mắt sáng rực sự tinh ranh và lòng dũng cảm vô song. Những lần vượt ngục thần thánh của Lượm khiến tôi nín thở, rồi lại bật khóc vì sự kiên cường vượt quá giới hạn chịu đựng của một con người. Nhưng có lẽ, nhân vật vắt kiệt nhiều nước mắt của tôi nhất chính là Mừng. Cậu bé khao khát hái lá tầm gửi trên cây lộc vừng để chữa bệnh hen cho mạ, lại mang nỗi oan khuất “Việt gian” thấu trời xanh cho đến tận phút nhắm mắt xuôi tay. Lời trăng trối thoi thóp: “Đừng nghi em là Việt gian nữa hỉ” như một mũi dùi xuyên thủng tâm can, cứa vào cõi lòng ta những vết cắt rỉ máu không bao giờ lành. Các em bay vào cõi chết nhẹ tựa lông hồng, bởi trong lồng ngực non nớt ấy là một trái tim đập trọn vẹn nhịp đập của non sông.
Tiếng dương cầm vỡ vụn giữa trời bom
Sẽ là một khoảng trống khổng lồ trong cảm xúc nếu tôi không nhắc đến Quỳnh “sơn ca”. Một thiếu gia con nhà trâm anh thế phiệt, từ bỏ nệm ấm chăn êm, từ bỏ cây đàn piano láng bóng để đi theo tiếng gọi thiêng liêng của Vệ quốc đoàn. Bản nhạc em đánh giữa chiến khu, trên phím đàn cũ nát mượn tạm, là hiện thân của cái đẹp vươn lên từ bùn lầy và xác chóc. Tiếng đàn ấy mỏng manh nhưng kiêu hãnh, gột rửa những dơ bẩn của cuộc chiến, trả lại cho các em một khoảng trời bình yên chốc lát giữa những trận càn.
Sự mong manh của Quỳnh đối lập hoàn toàn với sự khốc liệt của chiến trường. Khi đọc đến đoạn Quỳnh ra đi vì vết thương vỡ con tim, tôi đã để mặc cho nước mắt mình rơi ướt mặt giấy. Một cái chết thanh thản, êm ái như một nốt nhạc trầm buông lơi, nhưng lại để lại một hố sâu thăm thẳm trong lòng những người đồng đội nhí. Nếu có một phép màu để xin một vé đi tuổi thơ, tôi nguyện xin cho các em được sống đúng với lứa tuổi của mình, được đánh đàn, được cắp sách đến trường, thay vì phải nằm lại vĩnh viễn dưới lớp đất lạnh lẽo của núi rừng Hòa Mỹ.
Tượng đài tạc bằng máu đỏ và hoa phượng vĩ
Nghệ thuật trần thuật của Phùng Quán trong Tuổi thơ dữ dội đạt đến độ chín muồi của một bậc thầy ngôn từ. Ông sử dụng thủ pháp đối lập gay gắt để đẩy bi kịch lên đến đỉnh điểm, khiến cảm xúc người đọc bị dồn nén đến mức bục vỡ. Ngôn ngữ đậm chất địa phương xứ Huế với những “răng, rứa, mạ, bọ, chừ” không hề làm tác phẩm trở nên rào cản, mà ngược lại, nó thổi vào từng trang viết một sinh khí chân thực, mộc mạc và gần gũi đến xót xa. Giọng văn khi thì dồn dập, nghẹt thở trong những trận đánh, lúc lại chùng xuống, rưng rưng trong những đêm các em nhớ nhà.
Biện pháp tu từ ẩn dụ và biểu tượng được Phùng Quán sử dụng tài tình, đặc biệt là qua hình ảnh những bông hoa phượng vĩ. Hoa phượng vĩ ở đây không chỉ là loài hoa báo hiệu mùa hè của tuổi học trò mộng mơ. Trong thế giới của Tuổi thơ dữ dội, phượng vĩ là máu của các em nhuộm đỏ đất trời, là ngọn lửa nhiệt huyết không bao giờ tắt của một thế hệ anh hùng nhỏ tuổi. Mỗi lần một Vệ quốc quân nhí ngã xuống, dường như có một nhành phượng vĩ bùng cháy dữ dội hơn, rực rỡ hơn giữa bầu trời Huế rực nắng, thắp sáng con đường cho những người còn sống bước tiếp.
Khép lại những trang sách ố vàng, ta nợ tháng năm một lời tạ lỗi
Đêm đã về khuya, tiếng mưa ngoài kia dần nhường chỗ cho sự tĩnh lặng mịch mờ của vũ trụ. Gấp lại Tuổi thơ dữ dội, cõi lòng tôi như có một cơn bão vừa càn quét qua, để lại những dư chấn âm ỉ chực chờ trào dâng. Phùng Quán đã vĩnh viễn rời xa cõi tạm, nhưng ông đã kịp tạc nên một tượng đài bất tử bằng ngôn từ, nơi những linh hồn bé nhỏ hóa thành muôn vàn vì tinh tú soi sáng bầu trời đêm của dân tộc.
Bạn và tôi, những kẻ đang sống trong nhung lụa của kỷ nguyên hòa bình, có bao giờ chững lại một nhịp thở giữa dòng đời hối hả để lắng nghe tiếng vọng từ quá khứ? Khúc tráng ca ấy vẫn đang hát, văng vẳng bên dòng sông Hương lững lờ trôi, nhắc nhở ta về một thời hoa lửa, về những con người đã lấy nụ cười trong trẻo để cản bước quân thù. Để rồi, trong một khoảnh khắc vô tình nào đó nhìn thấy nụ cười của một đứa trẻ trên phố, ta bỗng nghe sống mũi mình cay cay, nhận ra ta nợ những thiên thần áo lính ấy cả một cuộc đời bình yên, nợ một cái cúi đầu tạ lỗi trước những hy sinh quá đỗi lớn lao mà lịch sử đã khắc tạc.


