Đêm mùa đông nghe tiếng thác réo gọi từ trang sách cũ
Có những đêm mùa đông tĩnh lặng đến mức tôi có thể nghe rõ tiếng lá khô vỡ vụn dưới hiên nhà. Trong một đêm trắng như thế, bên tách trà ủ hương sen đã nguội dần, tôi tình cờ lật giở lại những trang văn phủ bụi thời gian. Và rồi, từ khe hở của những con chữ xếp hàng ngay ngắn, một âm thanh ầm ĩ bỗng dội vào tâm trí tôi. Không phải tiếng gió bấc bủa vây, mà là tiếng gầm thét của một dòng thác dữ dội, tiếng nước xô đá, đá xô sóng, sóng xô gió cuồn cuộn vỡ bờ. Đó là khoảnh khắc tôi nhận ra mình đang một lần nữa chìm đắm vào thế giới nghệ thuật đầy ma lực của Nguyễn Tuân qua tuyệt bút Người lái đò sông Đà.
Bạn biết không, đọc văn của người nghệ sĩ tài hoa này chưa bao giờ là một cuộc dạo chơi thong dong trên con đường bằng phẳng. Đó luôn là một chuyến phiêu lưu mạo hiểm, đòi hỏi người đọc phải căng mọi giác quan để bắt nhịp cùng cái ngông, cái cuồng, và cả cái say đắm đến tột cùng trước cái đẹp. Người lái đò sông Đà không đơn thuần là một bài tùy bút ghi chép lại chuyến đi thực tế gian khổ lên vùng Tây Bắc. Đối với tôi, nó là một bản giao hưởng ngôn từ, nơi những biện pháp tu từ được đẩy lên mức tuyệt đích để tạc nên bức tượng đài sừng sững về thiên nhiên và con người lao động.
Thủy quái miền Tây Bắc và điệu vũ của đá nước
Hãy nhắm mắt lại và để trí tưởng tượng của bạn trôi theo dòng chảy mà Nguyễn Tuân đã khơi nguồn. Ngay từ những dòng đầu tiên, sông Đà hiện lên không phải là một dải nước vô tri vô giác, mà là một sinh thể mang linh hồn, một con “thủy quái” mang dã tâm tiêu diệt bất cứ ai dám bén mảng đến lãnh địa của nó. Bằng nghệ thuật nhân hóa bậc thầy, kết hợp cùng trí tưởng tượng phong phú và vốn từ vựng góc cạnh, nhà văn đã thổi vào dòng sông những cung bậc cảm xúc dữ dội nhất.
Tôi từng rùng mình khi đọc đến đoạn miêu tả tiếng thác nước. Tác giả không dùng những từ ngữ sáo rỗng để nói về độ lớn của âm thanh. Ông dùng chính âm thanh để miêu tả âm thanh, dùng cảm giác để khơi gợi cảm giác. Tiếng thác nghe như oán trách, rồi lại như van xin, rồi lại như khiêu khích, giọng gằn mà chế nhạo. Để rồi đỉnh điểm của sự bạo liệt được tung ra bằng một phép so sánh mang tầm vóc sử thi: tiếng nước rống lên như tiếng của một ngàn con trâu mộng đang lồng lộn giữa rừng vầu rừng tre nứa nổ lửa. Phép cộng hưởng của thính giác, thị giác và cả xúc giác trong câu văn này khiến tôi có cảm giác như ngọn lửa của rừng Tây Bắc đang cháy rực ngay trước mắt, và tiếng rống tuyệt vọng của bầy trâu đang xé toạc màng nhĩ. Sự hoang dại, bi tráng của thiên nhiên nơi đây khiến tôi bất chợt nhớ đến những vần thơ khắc nghiệt mà lãng mạn vô ngần trong bản hùng ca bi tráng Tây Tiến của Quang Dũng, nơi rừng thiêng nước độc cũng từng thử thách biết bao bước chân tuổi trẻ.
Không dừng lại ở đó, Người lái đò sông Đà còn phô diễn sức mạnh thiên nhiên qua hình ảnh “trùng vi thạch trận”. Những hòn đá vô tri dưới ngòi bút Nguyễn Tuân bỗng chốc hóa thành những tướng dữ, lính tợn. Chúng biết bày binh bố trận, biết dụ địch, biết đánh giáp lá cà. Lối viết điêu luyện, vận dụng tri thức của nhiều ngành nghệ thuật như điện ảnh, võ thuật, quân sự đã biến một khúc sông thành một chiến trường thực thụ, nơi sự sống và cái chết chỉ cách nhau trong đường tơ kẽ tóc.

Sợi dây thừng ngoằn ngoèo vắt ngang lưng trời mây
Thế nhưng, nếu Người lái đò sông Đà chỉ có âm hưởng của bạo lực và hiểm nguy, thì có lẽ tác phẩm đã không ám ảnh tôi đến thế. Điều làm nên sự vĩ đại của Nguyễn Tuân chính là khả năng xoay chuyển góc nhìn một cách ngoạn mục. Từ điểm nhìn của một người bay trên cao nhìn xuống, con sông dữ tợn kia bỗng thu mình lại, hóa thành một “cái dây thừng ngoằn ngoèo” dưới chân mình, rồi lại dịu dàng vươn dài như một áng tóc trữ tình, đầu tóc chân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban hoa gạo.
Tôi yêu vô cùng cái cách nhà văn miêu tả màu nước sông Đà. Nó không mang màu đen thẫm như tên gọi mà thực dân Pháp từng gán ghép, mà biến ảo theo từng mùa. Mùa xuân, nước xanh ngọc bích – một thứ màu xanh trong trẻo, quý phái, chứ không xanh màu xanh canh hến của sông Gâm, sông Lô. Mùa thu, nước lừ lừ chín đỏ như da mặt một người bầm đi vì rượu bữa. Những phép so sánh tinh tế, mang đậm chất tạo hình ấy khiến dòng sông hiện lên như một bức tranh thủy mặc tuyệt bích. Dòng sông lúc này mang vẻ đẹp tĩnh lặng, lững lờ như nhớ thương những hòn đá thác xa xôi, mang trong mình cái hơi thở của những câu thơ Đường cổ kính.
Đọc đến những đoạn văn miêu tả cảnh ven sông, tâm hồn tôi như được gột rửa khỏi những ồn ào phố thị. Cảnh vật lặng tờ đến mức dường như từ thời Lý, thời Trần, thời Lê đến nay, quãng sông này vẫn lặng tờ như thế. Một bờ tiền sử, một nỗi niềm cổ tích. Khát khao tìm kiếm cái Đẹp nguyên sơ, thuần khiết ấy của Nguyễn Tuân khiến tôi liên tưởng đến hành trình vươn tới cái Đẹp vĩnh cửu, thứ ánh sáng rực rỡ của vẻ đẹp thiên lương trong Chữ người tử tù mà ông từng khắc họa trước Cách mạng. Chỉ khác là giờ đây, cái Đẹp ấy không còn lạc lõng, đơn độc mà hòa quyện trọn vẹn vào nhịp sống của đất nước đang độ hồi sinh.
Khúc vĩ thanh của đôi bàn tay chai sần và vầng trán đẫm mồ hôi
Giữa cái nền thiên nhiên vừa hùng vĩ, vĩ đại, vừa hung bạo và trữ tình ấy, con người xuất hiện không phải với tư cách của một nạn nhân bé nhỏ, mà là một vị chúa tể. Hình tượng người lái đò trong Người lái đò sông Đà chính là hiện thân của “chất vàng mười” đã qua thử lửa mà Nguyễn Tuân cất công tìm kiếm ở miền Tây Bắc.
Ông lái đò không có một cái tên cụ thể. Ông vô danh như biết bao người lao động bình dị khác trên dải đất hình chữ S này. Nhưng qua ngòi bút của Nguyễn Tuân, ông hiện lên như một dũng tướng trên mặt trận sông nước. Tác giả đã dùng những từ ngữ góc cạnh nhất để tạc nên bức chân dung ngoại hình mang đậm dấu ấn nghề nghiệp: tay lêu nghêu như cái sào, chân lúc nào cũng khuỳnh khuỳnh gò lại như kẹp lấy một cái cuống lái tưởng tượng, giọng nói ào ào như tiếng nước trước mặt ghềnh. Đó là vẻ đẹp của sự dạn dày sương gió, của những tháng ngày vật lộn cùng thủy quái.
Cuộc thủy chiến giữa ông lái đò và sông Đà là một trong những đoạn văn miêu tả hành động xuất sắc nhất trong văn học Việt Nam hiện đại. Khi đối diện với trùng vi thạch trận, ông đò không hề nao núng. Dù bị dòng nước đánh những đòn hiểm độc nhất, mặt méo bệch đi vì đau đớn, ông vẫn kiên cường giữ chặt cuống lái. Những động tác “nắm chặt”, “ghì cương”, “phóng nhanh”, “lái miết” được nhà văn miêu tả với nhịp độ dồn dập, tạo nên một thước phim hành động nghẹt thở. Ông lái đò thuộc lòng bản đồ của dòng sông, nắm chắc binh pháp của thần sông thần đá. Sự tài hoa, trí dũng của ông khiến công việc chèo đò nhọc nhằn trở thành một nghệ thuật, và người lái đò chính là một nghệ sĩ tài ba trên mặt trận vượt thác.
Nhưng điều khiến tôi rưng rưng xúc động nhất lại là khoảnh khắc sau khi cuộc chiến kết thúc. Sóng nước xèo xèo tan trong trí nhớ. Những người lái đò dừng chèo, đốt lửa nướng ống cơm lam, bàn về cá anh vũ, cá dầm xanh, tuyệt nhiên không ai bàn thêm một lời nào về cuộc chiến thắng vừa qua nơi cửa ải nước tướng dữ quân tợn vừa rồi. Sự bình dị, ung dung ấy mới thực sự là đỉnh cao của cái Đẹp. Họ coi việc chiến đấu và chiến thắng thiên nhiên hung dữ là một phần tất yếu của cuộc sống thường nhật, không cần ngợi ca, không cần huân chương. Đó chính là thứ “chất vàng mười” lấp lánh trong tâm hồn những con người lao động vô danh, làm bừng sáng cả trang văn Người lái đò sông Đà.
Khi trang văn khép lại, dòng sông vẫn mải miết trôi
Tôi nhẹ nhàng gấp cuốn sách lại, nhưng tiếng thác réo, tiếng mái chèo rẽ sóng và hình ảnh áng tóc trữ tình của dòng sông dường như vẫn còn vương vấn đâu đây trong căn phòng nhỏ. Người lái đò sông Đà của Nguyễn Tuân không chỉ là một bức tranh ngôn từ lộng lẫy, mà còn là một khúc tráng ca tôn vinh sức mạnh, vẻ đẹp và sự tài hoa của con người Việt Nam trong công cuộc chinh phục thiên nhiên.
Trải qua bao thăng trầm của thời gian, sông Đà ngày nay có lẽ đã bớt phần hung bạo bởi những công trình thủy điện giăng ngang, những người lái đò dũng cảm năm xưa có lẽ cũng đã lùi vào dĩ vãng. Thế nhưng, trong thế giới nghệ thuật của Nguyễn Tuân, dòng sông ấy vẫn muôn đời tuôn chảy, gầm thét và dịu dàng, còn người lái đò vẫn vĩnh viễn đứng trên mũi thuyền, vầng trán đẫm mồ hôi và đôi mắt rực sáng, kiêu hãnh vút qua những ngọn sóng bạc đầu. Bạn và tôi, những người đi sau, đọc lại những trang văn này để không chỉ ngưỡng mộ một tài năng ngôn ngữ bậc thầy, mà còn để biết cúi đầu trân trọng những vẻ đẹp khuất lấp, những “chất vàng mười” vẫn đang âm thầm tỏa sáng giữa cuộc đời dâu bể mênh mang.


