Đêm nguyệt tận và tiếng gươm khua vọng về từ dĩ vãng
Có những đêm vắng lặng, khi tiếng mưa rả rích gõ nhịp đều đều bên bậu cửa sổ, tôi thường có thói quen pha một tách trà sen, thu mình vào một góc tối và lần giở lại những trang giấy đã ngả màu thời gian. Mùi giấy cũ kỹ nồng lên một thứ hương vị ngai ngái của hoài niệm, của lớp bụi mờ phủ lấp những triều đại suy vong. Và trong những khoảnh khắc tĩnh mịch đến độ nghe được cả tiếng thở dài của chính mình ấy, tôi lại tìm về với Hoàng Lê nhất thống chí. Không phải để học thuộc những sự kiện khô khan, mà để áp tai vào trang sách, lắng nghe tiếng gươm khua, tiếng ngựa hí, tiếng súng nổ rền vang và cả tiếng khóc nghẹn ngào của một vương triều đang trút những hơi thở cuối cùng.
Bạn biết không, đọc tác phẩm này không giống như việc lướt qua một biên niên sử vô hồn. Dưới ngòi bút tài hoa và đầy trăn trở của Ngô gia văn phái, quá khứ hiện lên như một bức tranh thủy mặc khổng lồ, nơi những nét cọ mạnh bạo, gân guốc của người anh hùng áo vải đan xen cùng những vệt mực nhòe nhoẹt, bi thương của một thế lực phong kiến đang mủn nát. Tôi đồ rằng, những bậc túc nho của Ngô gia văn phái hẳn đã phải mài mực bằng chính những giọt nước mắt thế thời, để rồi viết nên một kiệt tác chương hồi mà mỗi con chữ đều mang sức nặng của ngàn năm non nước.
Bóng áo vải cờ đào rực sáng giữa tro tàn Thăng Long
Nếu có một hình tượng nghệ thuật nào làm tôi choáng ngợp nhất trong cuốn tiểu thuyết lịch sử này, thì đó chắc chắn là khoảnh khắc hoàng đế Quang Trung – Nguyễn Huệ xuất hiện giữa cơn dông bão của thời đại. Ngòi bút của Ngô gia văn phái vốn xuất thân từ những cựu thần mang nặng tư tưởng tôn quân trọng Lê, thế nhưng, đứng trước ánh sáng chói lòa của bậc vĩ nhân, họ đã gạt bỏ mọi định kiến để tạc nên một bức tượng đài kỳ vĩ, lẫm liệt đến nghẹt thở.
Bạn hãy nhắm mắt lại và cảm nhận nhịp điệu dồn dập, hối hả trong từng câu văn. Nghệ thuật sử dụng động từ mạnh được đẩy lên mức tối đa: “tế cáo”, “lên ngôi”, “xuất quân”, “hành quân”… Một loạt hành động diễn ra nhanh như chớp giật, tựa hồ như bước chân của người anh hùng đang đạp bằng mọi trở ngại, kéo theo cả một luồng sinh khí hừng hực của đất trời. Quang Trung không hiện lên qua những lời tụng ca sáo rỗng hay những lớp áo bào dát vàng viền ngọc. Ông hiện lên chân thực, uy dũng với trí tuệ sáng suốt, tầm nhìn chiến lược sâu rộng và một trái tim đập cùng nhịp với sự tồn vong của xã tắc. Cảm giác rung động trào dâng trong tôi lúc này cũng mãnh liệt hệt như khi trái tim loạn nhịp trước bản hùng ca bi tráng của đoàn binh Tây Tiến xuyên qua màn sương lấp của núi rừng Tây Bắc muôn đời.

Lời hịch tạc vào mây gió non sông
Tôi đã dừng lại rất lâu ở đoạn trích diễn tả cuộc duyệt binh tại Tam Điệp. Lời phủ dụ của vua Quang Trung vang lên không chỉ là mệnh lệnh của một vị thống soái, mà là tiếng vọng ngàn đời của hồn thiêng sông núi. Bằng biện pháp tu từ điệp cấu trúc và giọng văn biền ngẫu nhịp nhàng, âm vang, Hoàng Lê nhất thống chí đã tái hiện một khúc tráng ca bất tử: “Đánh cho để dài tóc/ Đánh cho để đen răng/ Đánh cho nó chích luân bất phản/ Đánh cho nó phiến giáp bất hoàn…”.
Điệp từ “đánh” được lặp lại như những nhịp trống trận liên hồi, gõ thẳng vào lồng ngực người đọc. Đó không chỉ là khát vọng đánh đuổi ngoại xâm, mà còn là lời thề bảo vệ những giá trị văn hóa cốt lõi nhất của dân tộc – mái tóc, hàm răng. Sự kết hợp tài tình giữa ngôn ngữ bình dị, dân dã và những điển tích Hán học thâm thúy đã tạo nên một thứ ma lực ngôn từ, khiến hàng vạn quân lính nghe xong đều “xin vâng lệnh”. Tôi nhận ra, Ngô gia văn phái đã mượn lời nhân vật để ký thác vào đó niềm tự hào dân tộc tột cùng, một thứ hào khí ngùn ngụt cháy sáng rực cả bầu trời đêm Thăng Long tăm tối.
Cơn dông bão cuốn phăng những ngai vàng mục rỗng
Sự vĩ đại của một tác phẩm văn học không chỉ nằm ở việc ngợi ca cái đẹp, mà còn ở bản lĩnh phơi bày những mảng tối tăm, hèn mạt của hiện thực. Và Hoàng Lê nhất thống chí đã làm điều đó bằng một thủ pháp tương phản đối lập vô cùng sắc sảo. Một bên là đoàn quân áo vải thần tốc, oai phong; một bên là lũ giặc cướp nước và bọn vua quan bán nước đang tháo thân trong sự nhục nhã ê chề.
Ngòi bút miêu tả của Ngô gia văn phái lúc này bỗng trở nên lạnh lùng, mỉa mai đến tàn nhẫn. Hình ảnh Tôn Sĩ Nghị “sợ mất mật, ngựa không kịp đóng yên, người không kịp mặc giáp, dẫn bọn lính kỵ mã của mình chuồn trước qua cầu phao” là một nét vẽ trào phúng bậc thầy. Đâu rồi cái vẻ huênh hoang, tự đắc của kẻ mang danh thiên triều? Tất cả chỉ còn lại sự thảm hại, giày xéo lên nhau mà chạy, làm cho dòng sông Nhị Hà phải “tắc nghẽn”. Nghệ thuật tả thực được đẩy đến tận cùng, lột trần bộ mặt hèn nhát của những kẻ xâm lăng.
Giọt nước mắt đắng cay của một triều đại rụng rơi
Nhưng có lẽ, điều khiến tôi ám ảnh nhất lại là hình ảnh vua Lê Chiêu Thống cùng hoàng thái hậu ôm nhau khóc lóc giữa đường bôn tẩu. Ngô gia văn phái là những bề tôi của nhà Lê, họ viết về sự sụp đổ của triều đại mình từng phụng sự bằng một trái tim rỉ máu. Giọng văn lúc này chùng xuống, ngập tràn một niềm bi phẫn, xót xa. Vị vua mang thiên mệnh giờ đây phải chạy trốn trong đêm tối, chịu cảnh đói khát, phải xin ăn người dân quê mùa.
Sự sụp đổ ấy không đến từ một thế lực siêu nhiên nào, mà đến từ chính sự thối nát, mục rỗng từ bên trong, từ cái thói “cõng rắn cắn gà nhà”. Đọc đến đây, tôi bỗng chạnh lòng nghĩ đến lời tự tình của dân tộc, nơi Đất Nước không bao giờ thuộc về những ngai vàng vô cảm, mà thuộc về nhân dân – những người vô danh đã đổ máu xương để giữ gìn từng tấc đất. Bằng sự trung thực tuyệt đối của những ngòi bút chép sử, Hoàng Lê nhất thống chí đã vượt qua những giới hạn của hệ tư tưởng phong kiến để đứng về phía chân lý, về phía nhân dân và lẽ phải.
Dư âm vỡ vụn trên những trang sử úa vàng
Khép lại những chương sách cuối cùng của Hoàng Lê nhất thống chí, ngoài hiên nhà, trời đã tạnh mưa từ lúc nào. Không gian chìm vào một vẻ tĩnh mịch sâu thẳm, nhưng trong tâm trí tôi, tiếng ngựa hí dồn dập, tiếng gươm giáo loảng xoảng và bóng dáng oai linh của người anh hùng áo vải vẫn còn in đậm nét. Tác phẩm không đơn thuần là một cuốn tiểu thuyết lịch sử, mà là một bảo tàng ngôn từ, nơi lưu giữ trọn vẹn nhịp đập của một thời đại đầy biến động, máu và nước mắt.
Ngô gia văn phái đã lùi xa vào dĩ vãng, triều đại nhà Lê hay nhà Tây Sơn cũng đã trở thành những lớp bụi mờ của thời gian. Thế nhưng, hào khí dân tộc, tinh thần tự tôn và những bài học xương máu về đạo lý trị quốc, về lòng dân vẫn còn nguyên vẹn giá trị. Bạn và tôi, những người đi sau hàng thế kỷ, khi chạm tay vào tác phẩm này, chẳng phải cũng đang chạm vào chính linh hồn của đất nước đó sao? Một linh hồn dẫu trải qua bao cơn binh lửa vẫn kiên cường, bất khuất, để lại những dư âm miên man, đau đáu nhưng cũng đầy kiêu hãnh trên những trang giấy úa vàng.


