Review Đồng chí: Tình đồng đội thiêng liêng

Khởi nguồn của những rung cảm: Một đêm rùng mình nhớ cái lạnh rừng hoang

Có những đêm muộn, khi tiếng mưa rả rích gõ nhịp đều đều bên hiên cửa sổ, cái lạnh của đất trời dường như len lỏi vào tận sâu trong từng ngóc ngách của tâm hồn. Khẽ ủ ấm đôi bàn tay bằng tách trà mạn đang tỏa khói, tôi chợt bâng khuâng nghĩ về hơi ấm. Không phải thứ hơi ấm vật lý từ bếp lửa hay chăn bông, mà là hơi ấm của tình người giữa những thời khắc buốt giá nhất của cuộc đời. Chính trong khoảnh khắc tĩnh lặng và cô liêu ấy, tâm trí tôi vô thức tìm về bài thơ Đồng chí của thi sĩ Chính Hữu. Một thi phẩm mà có lẽ, bất cứ ai trong chúng ta cũng từng một lần ngân nga thuở còn ngồi trên ghế nhà trường, nhưng phải đợi đến khi thực sự nếm trải đủ những chông chênh của sương gió cuộc đời, ta mới thấm thía trọn vẹn sức nặng của hai tiếng gọi thiêng liêng ấy.

Hôm nay, giữa không gian mờ ảo của đêm mưa, tôi muốn mời bạn – những tâm hồn đồng điệu đang khát khao tìm kiếm sự ủi an trong văn chương – cùng tôi lật giở lại những vần thơ mộc mạc mà ám ảnh này. Chúng ta không đọc Đồng chí như một bài học lịch sử khô khan, mà hãy cảm nhận nó như một lời tự tình, một tiếng thở dài xót xa nhưng cũng đầy kiêu hãnh của những con người đã lấy tình thương để vượt lên trên cái chết.

Đi vào cõi mộng của Đồng chí: Nơi hiện thực trần trụi hóa thành bệ phóng của chất thơ

Mùa thu đông năm 1948, giữa núi rừng chiến khu Việt Bắc hoang vu và lạnh lẽo, nhà thơ Chính Hữu đã chắp bút viết nên tác phẩm để đời của mình. Khác với vẻ mộng mơ, lãng mạn pha chút kiêu bạc của những chàng trai Hà thành trong Tây Tiến (Quang Dũng), những người lính trong thơ Chính Hữu bước ra từ bùn lầy, từ gốc rạ, mang theo nguyên vẹn cái chất phác, lam lũ của đồng quê Bắc Bộ. Không gian nghệ thuật của bài thơ không có những chiều sương giăng mắc mờ ảo hay những đêm liên hoan bừng lên hội đuốc hoa, mà nó được xây dựng trên nền của hiện thực khắc nghiệt: có sương muối, có rừng hoang, có những cơn sốt rét rừng hành hạ đến tơi bời thể xác.

Thế nhưng, chính giữa cái phông nền tăm tối và lạnh lẽo tột cùng ấy, thứ ánh sáng rực rỡ nhất lại được thắp lên – ánh sáng của tình người. Đồng chí không chỉ là một danh xưng chính trị, mà dưới ngòi bút tài hoa của Chính Hữu, nó đã hóa thành một biểu tượng toàn mỹ của tình tri kỷ, sự thấu cảm tận cùng giữa những con người cùng chung một cảnh ngộ, cùng chung một nhịp đập trái tim.

Từ những người xa lạ đến cái gật đầu của tình tri kỷ

Mở đầu bài thơ, giọng văn như một lời thủ thỉ tâm tình, chậm rãi và tự nhiên đến lạ kỳ. Tác giả không dùng những mỹ từ to tát để ngợi ca cội nguồn của người lính, mà ông chọn cách kể chuyện, cách giãi bày rất đỗi chân quê:

“Quê hương anh nước mặn, đồng chua
Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá.
Anh với tôi đôi người xa lạ
Tự phương trời chẳng hẹn quen nhau,
Súng bên súng, đầu sát bên đầu,
Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỷ.
Đồng chí!”

Bạn có thấy sự tài tình trong nghệ thuật đối xứng ở đây không? “Quê hương anh” đi liền với “làng tôi”, “nước mặn đồng chua” sóng đôi cùng “đất cày lên sỏi đá”. Những thành ngữ dân gian được vận dụng một cách nhuần nhuyễn đã lột tả trọn vẹn cái nghèo khó, cái nhọc nhằn của những vùng quê nghèo lam lũ. Họ vốn dĩ là những đường thẳng song song, “đôi người xa lạ” từ những phương trời vô định. Nhưng rồi, chính tiếng gọi của non sông, chính sự đồng điệu về lý tưởng đã kéo họ lại gần nhau. “Súng bên súng” là chung nhiệm vụ, “đầu sát bên đầu” là chung chí hướng. Và rồi, cái lạnh cắt da cắt thịt của đêm rừng Việt Bắc đã trở thành chất xúc tác tuyệt vời nhất để những tâm hồn ấy hòa quyện: “Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỷ”.

bài thơ Đồng Chí
bài thơ Đồng Chí

Nhịp thơ đang trải dài, miên man bỗng dưng khựng lại, dồn nén vào một dòng thơ chỉ có vỏn vẹn hai âm tiết và một dấu chấm than: “Đồng chí!”. Nó như một nốt nhấn nức nở, một tiếng gọi bật ra từ tận đáy lòng, vừa thiêng liêng, vừa xúc động. Hai tiếng ấy như một bản lề khép lại quá khứ xa lạ, mở ra một cánh cửa mới của tình đồng đội gắn bó keo sơn, sống chết có nhau.

Vẻ đẹp của sự thấu cảm giữa tận cùng gian khổ

Nếu như đoạn đầu là sự đồng điệu về hoàn cảnh xuất thân, thì đoạn tiếp theo của bài thơ Đồng chí lại là một bức tranh tả thực đến xót xa về những thiếu thốn, gian khổ nơi chiến trường. Chính Hữu không hề né tránh hiện thực. Ông nhìn thẳng vào những mất mát, những nỗi đau thể xác đang cấu xé những người lính:

“Ruộng nương anh gửi bạn thân cày
Gian nhà không, mặc kệ gió lung lay
Giếng nước gốc đa nhớ người ra lính.
Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh
Sốt run người vầng trán ướt mồ hôi.
Áo anh rách vai
Quần tôi có vài mảnh vá
Miệng cười buốt giá
Chân không giày
Thương nhau tay nắm lấy bàn tay.”

Đọc những vần thơ này, cõi lòng tôi không khỏi rưng rưng. Chữ “mặc kệ” vang lên nghe sao mà ngang tàng, dứt khoát, nhưng ẩn sâu dưới cái vỏ bọc kiên cường ấy là cả một trời thương nhớ để lại phía sau lưng. Họ ra đi, bỏ lại ruộng nương, bỏ lại gian nhà trống huơ trống hoác mặc cho gió lùa. Cái hay của Chính Hữu là ông đã dùng hình ảnh “giếng nước gốc đa” – một hoán dụ nghệ thuật tuyệt đẹp để nói về quê hương, về những người mẹ, người vợ đang mòn mỏi ngóng trông. Quê hương nhớ người lính, hay chính người lính đang mang nỗi nhớ quê hương ôm ấp trong tim?

Nhưng rồi, hiện thực chiến tranh tàn khốc lại kéo họ về với thực tại. Những cơn sốt rét rừng – bóng ma ám ảnh của những năm tháng kháng chiến – được miêu tả chân thực đến gai người: “ớn lạnh”, “sốt run người”, “vầng trán ướt mồ hôi”. Trang phục của họ thì sao? “Áo rách vai”, “quần vài mảnh vá”, “chân không giày”. Sự thiếu thốn vật chất tưởng chừng như có thể quật ngã bất kỳ ai. Thế nhưng, giữa cái lạnh thấu xương, giữa cái đói khát và bệnh tật, họ vẫn trao nhau “miệng cười buốt giá”. Nụ cười ấy là sự lạc quan, là niềm tin bất diệt. Và câu thơ “Thương nhau tay nắm lấy bàn tay” chính là đỉnh cao của tình người. Không cần những lời động viên sáo rỗng, chỉ một cái nắm tay thật chặt, truyền cho nhau hơi ấm từ dòng máu nóng, cũng đủ để họ có thêm sức mạnh vượt qua mọi giông bão.

Bức tượng đài vĩnh cửu: Đầu súng trăng treo

Cảm xúc của bài thơ Đồng chí được đẩy lên đến đỉnh điểm và thăng hoa rực rỡ nhất ở ba câu thơ cuối cùng. Đây có lẽ là một trong những thi ảnh đẹp nhất, mang tính biểu tượng cao nhất của thơ ca kháng chiến Việt Nam:

“Đêm nay rừng hoang sương muối
Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới
Đầu súng trăng treo.”

Không gian lúc này là “rừng hoang sương muối” – sự khắc nghiệt của thiên nhiên đã lên đến tột độ. Trong cái không gian tĩnh lặng, lạnh lẽo và đầy hiểm nguy ấy (“chờ giặc tới”), hình ảnh những người lính “đứng cạnh bên nhau” hiện lên sừng sững, vững chãi như một bức tường thành không thể lay chuyển. Họ tựa vào nhau, lấy tình đồng đội làm điểm tựa để đối mặt với kẻ thù, với cái chết.

Và rồi, nhịp thơ đột ngột ngắt ra thành bốn chữ ngắn gọn, buông lơi như một tiếng thở phào nhẹ nhõm, như một nốt nhạc vút cao giữa bản giao hưởng bi tráng: “Đầu súng trăng treo”. Bốn chữ, nhưng gói trọn cả một không gian vũ trụ bao la, gói trọn cả triết lý sâu xa của cuộc đời. Súng và trăng – hai hình ảnh tưởng chừng như đối lập hoàn toàn. Súng là hiện thực, là chiến tranh, là sự khốc liệt, là mặt đất bụi bặm. Trăng là lãng mạn, là hòa bình, là cái đẹp vĩnh hằng, là bầu trời thanh cao. Xa và gần, thực và mộng, chiến sĩ và thi sĩ, tất cả đã hòa quyện vào nhau trong một khoảnh khắc xuất thần của nhà thơ Chính Hữu. Vầng trăng từ trên cao thăm thẳm dường như hạ xuống thấp dần, thấp dần, cho đến khi lơ lửng ngay trên đầu mũi súng của người chiến sĩ đang bồng gác. Ánh trăng ấy soi sáng tâm hồn họ, nhắc nhở họ về lý do họ cầm súng: chiến đấu để bảo vệ cái đẹp, bảo vệ bầu trời bình yên cho quê hương.

Gấp lại trang sách, mở ra cả một bầu trời dư âm

Gấp lại bài thơ Đồng chí, tiếng mưa ngoài hiên dường như đã ngớt, nhưng những dư âm từ những vần thơ của Chính Hữu vẫn còn thổn thức mãi trong tâm trí tôi. Bằng ngôn từ mộc mạc, giản dị nhưng được gọt giũa vô cùng tinh tế, bài thơ đã dựng lên một tượng đài bất tử về người lính nông dân, về vẻ đẹp của tình đồng đội, đồng chí thiêng liêng, cao cả.

Hơn bảy thập kỷ đã trôi qua kể từ ngày bài thơ ra đời, những “rừng hoang sương muối” hay “áo rách vai” đã lùi xa vào dĩ vãng. Thế nhưng, giá trị nhân văn mà Chính Hữu gửi gắm vẫn vẹn nguyên sức sống. Trong cuộc sống hiện đại ngày nay, giữa nhịp sống hối hả và đôi khi đầy rẫy những vô cảm, toan tính, ta bỗng thấy thèm khát vô cùng một cái “nắm lấy bàn tay” chân thành, một người sẵn sàng cùng ta sớt chia những “cơn ớn lạnh” của cuộc đời. Tình đồng chí ngày nay không chỉ bó hẹp trong chiến hào, mà nó chính là tình người, là sự thấu cảm, là cái tình tri kỷ giữa những con người cùng chung bước trên đường đời.

Đêm đã về khuya, tách trà trên tay cũng đã nguội, nhưng lòng tôi lại thấy ấm áp lạ kỳ. Còn bạn thì sao? Giữa những giông bão của cuộc đời rộng lớn này, bạn đã tìm thấy cho mình một “đồng chí”, một người tri kỷ để cùng nhau đi qua những “đêm rét chung chăn” hay chưa? Hãy để lại vài dòng tâm tình, chia sẻ cùng tôi những rung cảm của riêng bạn nhé, bởi vì văn chương sinh ra là để chúng ta xích lại gần nhau hơn.

Top xem trong tuần

Những công trình theo năm tháng tại Tiền Giang

Công trình tiêu biểu Tiền Giang Nhà thờ Cái Bè,...

Cánh đồng lúa chín Tịnh Biên

Bộ ảnh cánh đồng lúa chín vàng An Giang Vào...

Con đường hoa đẹp mê man tại Tiền Giang năm 2026

Con đường hoa mười giờ tại Tiền Giang Con đường...

43

Nội dung bài viết về Bạch dạ hành (Higashino...

42

Nội dung bài viết về Điều kỳ diệu của...

Bài mới

Những công trình theo năm tháng tại Tiền Giang

Công trình tiêu biểu Tiền Giang Nhà thờ Cái Bè,...

Cánh đồng lúa chín Tịnh Biên

Bộ ảnh cánh đồng lúa chín vàng An Giang Vào...

Con đường hoa đẹp mê man tại Tiền Giang năm 2026

Con đường hoa mười giờ tại Tiền Giang Con đường...

43

Nội dung bài viết về Bạch dạ hành (Higashino...

42

Nội dung bài viết về Điều kỳ diệu của...

41

Nội dung bài viết về Phía sau nghi can...

40

Nội dung bài viết về Tư duy nhanh và...

39

Nội dung bài viết về Sức mạnh của hiện...
spot_img

Nội dung liên quan

43

42

41

40

39